| |
| |
CHUYỆN VỀ SỰ “KHÓ NGHE” CỦA NGHỆ THUẬT
Tại sao chị thích nghiên cứu về chính sách quản lý nghệ thuật và marketing nghệ thuật?
Công việc hiện tại của tôi là nghiên cứu và giảng dạy lĩnh vực giải trí và nghệ thuật. Tôi chuyên nghiên cứu về chính sách quản lý nghệ thuật, nghệ thuật biểu diễn, về marketing và các nghệ sĩ, tôi đặc biệt chú ý nghiên cứu đến chính sách phát triển văn hóa nghệ thuật ở Việt Nam.
Một trong những điều tôi trăn trở là làm thế nào để phát triển được nhiều khách đến thăm và tham dự các buổi biểu diễn của rạp hát, bảo tàng. Tôi luôn tìm cách để giải mã, tìm hiểu nguyên nhân tại sao ở nơi này nhiều bảo tàng lại ít người đến tham quan, còn ở nơi kia thì lại tấp nập.
Không chỉ các rạp hát và bảo tàng ở Việt Nam khó có thể phát triển được khán giả, mà ở các nước khác cũng vậy. Tôi nghiên cứu các cách tiếp cận nhà hát, bảo tàng… của những người ở các nền văn hóa khác nhau, các chủng tộc khác nhau. Và thực tế chỉ ra rằng, những người ở những nền văn hóa không phải chính thống ít khi tiếp cận với nghệ thuật. Và nhiệm vụ của tôi là tìm cách giải mã tại sao lại có điều này?!
Riêng với đối tượng sinh viên, tôi đang có một nghiên cứu là làm sao cho sinh viên thích thú hơn với việc học tập tại trường đại học, đặc biệt là các môn nghệ thuật.
Phát hiện lớn nhất trong các nghiên cứu của chị là...?
Tôi tìm ra đặc điểm: Người VN thích đi cùng một nhóm, họ thích tụ lại với nhau để đi và cùng hưởng thụ nghệ thuật. Còn người Trung Quốc lại tiết kiệm, họ không muốn dành tiền và thời gian cho nghệ thuật, họ tập trung kiếm tiền vì miếng cơm manh áo. Người Ý thì rất dễ dàng tham gia những hình thức hoạt động, họ sẵn sàng bỏ tiền cho nghệ thuật; Người Hy Lạp lại thích những hoạt động gắn với cộng đồng… Đó mới chỉ là một mảng phát hiện ban đầu, và tôi đang tiếp tục nghiên cứu nữa.
Một bạn sinh viên học ngành múa ở Hà Nội buồn bã tâm sự rằng: Nếu ở Nga, hỏi diễn viên múa balê nào giỏi và nổi tiếng nhất ở Việt Nam, rất nhiều người biết. Nhưng cũng câu hỏi này, nếu hỏi ở VN thì lại khó tìm được người trả lời chuẩn xác. Chị chia sẻ thế nào về tâm sự trên?
Đấy là một điều đáng tiếc vì mình không có được nhiều công chúng và khán giả cho một số loại hình nghệ thuật bác học. Nó không hẳn là chính xác của ai. Điều này, không chỉ ở Việt Nam, mà ở nhiều nước khác cũng là bài toán “đau đầu”. Thứ nhất, có thể đây là những loại hình nghệ thuật khó tiếp nhận.
Điểm thứ hai là do chất lượng nghệ thuật, và thứ ba là nước mình không phổ biến về những loại hình đấy. Thêm nữa, chúng ta chưa có những chính sách rõ ràng để truyền thông giới thiệu về các loại hình nghệ thuật đấy cho người trẻ, đặc biệt là sinh viên biết.
Đầu thế kỷ 20, mặc dù khó khăn, nhưng giới thị dân và trí thức có vẻ khá hào hứng với các loại hình nghệ thuật hàn lâm. Theo chị, tại sao người ta lại có vẻ ngày càng ít quan tâm hơn đến các loại hình này, mặc dù đời sống khá giả hơn?
Có lẽ trong từng thời kỳ mỗi người lại có một tập trung ý thích vào các loại hình nghệ thuật khác nhau, sở thích khác nhau vào mỗi giai đoạn khác nhau. Người trẻ hiện nay bỏ nhiều tiền và thời gian mua một đồ chơi công nghệ mới, nhưng rất ít bỏ tiền (mặc dù rẻ hơn nhiều) để đi xem kịch, nghe hòa nhạc, ghé thăm bảo tàng… thậm chí phát không vé (miễn phí) họ cũng không thèm đi.
Theo tôi, đây là hậu quả của việc thiếu những chương trình giáo dục trong lĩnh vực này, để những người trẻ có thể tiếp cận nhiều hơn với các loại hình nghệ thuật ấy. Ai cấm ta đặt ra trường hợp rằng: Biết đâu đời sống của chúng ta đang giàu lên (hiểu theo nghĩa vật chất), nhưng chúng ta lại đang nghèo đi (về mặt tinh thần và hiểu biết sâu về nghệ thuật bác học)? Một nguyên lý đơn giản là: Khi bạn có lòng yêu thích và biết nhiều hơn về loại hình nghệ thuật nào đó, thì ắt hẳn bạn sẽ xem hay nghe nó nhiều hơn.
ĐỂ TIỆM CẬN HƠN VỚI NGHỆ THUẬT BÁC HỌC
Chị thường thích thưởng thức loại hình nghệ thuật nào?
Tôi thích nghe nhạc giao hưởng và xem múa balê!
Với nhạc giao hưởng, chị ấn tượng với bản nhạc nào, và vì sao?
Ý thích của tôi thay đổi theo từng thời kỳ. Tôi thích nghe một số bản piano của Chopin. Thời sinh viên, khi ở tuổi đang yêu, tôi thích nhất là Bản số 12, nó du dương và rất lãng mạn, dễ nghe, dễ hấp thụ…
Tôi là một người ngoại đạo với âm nhạc, nếu phải thuyết phục tôi thưởng thức một loại hình nghệ thuật bác học (nhạc giao hưởng, chẳng hạn) thì chị sẽ thuyết phục như thế nào?
Tôi sẽ dẫn bạn đi nghe hòa nhạc trước, với những bản nhạc dễ nghe, nhất là một số bản cho piano - rất dễ nghe. Sau đó tôi sẽ mời bạn đến những buổi hòa nhạc khó dần. Tôi sẽ giới thiệu bạn đọc một số sách đặc biệt về lịch sử của âm nhạc phương Tây, và cũng bắt đầu bằng một số tác giả có những bản nhạc dễ nghe.
Đấy là sự bắt đầu tốt cho những người không tiếp cận nhiều với âm nhạc bác học. Khi mình hiểu biết hơn về âm nhạc bác học, thì mình sẽ yêu thích nó hơn. Những người đến nghe nhiều nhất là những người thuộc giới trí thức, bởi vì bạn có kiến thức, có điều kiện về mặt kinh tế, và có cả thời gian.
Nhìn ở mặt chính sách vĩ mô, trong thời gian qua, ở ta, chúng ta đang chú trọng nhiều đến giải trí chứ chưa chú ý nhiều đến phần văn hóa. Quan điểm của chị thế nào?
Tôi đồng ý với nhận xét này. Trong chính sách nghệ thuật nước mình có nhiều đổi mới từ cuối năm 1998-1999, đến đầu những năm 2000 nước mình có nhiều chính sách mới. Một trong những chính sách là làm sao cho phát triển nguồn vốn, tài trợ, phát triển được nhiều chương trình hấp dẫn…
Về mặt nào đấy, chúng ta đã gặt hái được những thành công nhất định, người ta tìm được nguồn vốn và khán giả. Tuy nhiên, tôi có cảm nhận rằng, một số nơi tập trung vào việc làm sao tổ chức được nhiều buổi biểu diễn, hơn là tập trung vào chất lượng. Tôi thấy chúng ta chưa chú trọng đến việc nghiên cứu bề sâu.
Mỗi tổ chức nghệ thuật có một định hướng riêng để phát triển nhiều khán giả, nhưng cần có sự kết hợp cả hai yếu tố: chất lượng (chú ý đến tính Nghệ thuật) và lượng khán giả (đáp ứng nhu cầu Giải trí). Vì thực tế không có tiền, không có khán giả thì họ không thể duy trì những chương trình có chất lượng cao.
Tôi cho rằng, quan trọng nhất là cân đối, đừng để yếu tố giải trí nặng quá cũng đừng nghệ thuật quá mà mất khán giả. Nhìn về mặt chính sách, mặc dù ta đã có thay đổi nhiều nhưng vẫn còn nhiều cứng nhắc trong quản lý nghệ thuật, theo tôi là cần linh hoạt hơn.
Nói gì đến loại hình nghệ thuật bác học của “phương Tây”, ngay các loại hình bác học của chính dân tộc cũng đang đối mặt với sự mai một?
Tất cả những loại hình (trừ múa rối nước) như hát ca trù, chầu văn, chèo, tuồng, cải lương… đều gặp nhiều khó khăn. Thiết nghĩ mình phải đưa đến các trường phổ thông nhiều hơn. Thế hệ trẻ ít người thích nghe tuồng, chèo, mua vé thì lại càng không đến.
Chỉ có người già có khi may ra đi xem, mà có khi họ chỉ ngồi nhà xem tivi. Cần có kinh phí để duy trì và phát triển, sau đó là có các chương trình giáo dục để phát triển thế hệ trẻ, bởi những bạn trẻ này có thể là nguồn khán giả cho nay mai. Phải làm ngay từ bây giờ, chứ để mai một rồi thì sau này phục hồi lại rất khó.
Nhưng theo nghiệp cầm ca, số người thành công trên con đường nghệ thuật là rất ít...
Với nghệ sĩ thì ở đâu cũng vậy, tùy từng ngành… Tôi nghiên cứu cuộc đời của nhiều nghệ sĩ thì thấy rằng: Để kiếm được tiền từ nghề của mình cũng rất khó khăn. Nhiều ngành biểu diễn hạn chế tuổi tác. Để mà nổi tiếng thì không dễ dàng. Bạn hát rock tốt thì có thể kiếm tiền, và có thể kiếm tiền trong những quán bar. Trước đây nghề hát không được đề cao, nhưng hiện nay quan niệm này đang dần được thay đổi.
Ở nước ngoài có thủ thuật nào để thu hút lượng khán giả cho các chương trình hòa nhạc, bảo tàng...?
Mỗi mảng nghệ thuật có các thủ thuật khác nhau. Ví dụ trong lĩnh vực bảo tàng, thủ thuật họ làm là những chương trình trưng bày liên quan trực tiếp đến các tộc người. Họ mời những người trong cộng đồng người đó đến cùng họ dựng chương trình đấy, hoặc mang những vật trưng bầy đến. S
au đó ban tổ chức mời tất cả những người cùng cộng đồng này đến xem. Họ tổ chức nhiều chương trình lễ hội chuyên về thức ăn, rượu, sô-cô-la… và thường thường là miễn phí. Có những chương trình vui chơi kèm theo. Và người ta quảng bá rất rộng rãi. Những điều đó làm cho cộng đồng thấy chương trình rất hấp dẫn và đến xem…
Ở Australia, người ta có những chương trình để phát triển khán giả thính giả từ trong trường phổ thông. Điều này thể hiện tầm nhìn xa của họ: tạo nguồn khán giả cho tương lai. Họ cử từng đoàn biểu diễn đến các trường phổ thông. Chương trình ngắn nhưng thể hiện tầm nhìn dài hạn trong việc thu hút khán giả trong tương lai. Ở VN chưa làm được điều này, mình chưa có khán giả, đặc biệt là khán giả trẻ.
Xin cảm ơn chị!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét